Chùa Mía - GSV TravelKhám phá 

Giá trị kiến trúc văn hóa độc đáo của chùa Mía

Cùng với các di tích nổi tiếng tại ngôi làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây, Hà Nội), chùa Mía đã tạo được ấn tượng mạnh mẽ trong lòng du khách tham quan. Với lịch sử lâu đời cùng đường nét kiến trúc độc đáo, chùa Mía không chỉ là một điểm sáng về văn hóa tâm linh mà còn là một nốt nhấn đặc biệt về nghệ thuật ở nơi xứ Đoài mây trắng. Trong sương sớm, khi tiếng chuông chùa ngân vang, dường như mọi suy tư được đánh thức và mỗi người như đang có một cuộc hành hương trong tâm cảm của chính mình.

Chùa Mía (tên chữ: Sùng Nghiêm tự) là một ngôi chùa thuộc Phật giáo Bắc truyền, nằm ở thôn Đông Sàng, xã Đường Lâm, Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Có tên gọi như vậy bởi địa bàn mà ngôi cổ tự tọa lạc trước đây tên là Cam Giá, tên nôm là Mía. Chùa Mía nằm trên đỉnh quả đồi đá ong nhỏ, bằng phẳng (rộng chừng 1ha, hướng nam), nằm ngay đầu làng cổ Đường Lâm. Phía trước chùa là chợ Mía (còn gọi là chợ Chùa hay chợ Tam Bảo) và đền thờ vọng Bố Cái đại vương.

Chùa Mía - GSV Travel

Về tới chợ Tam Bảo, trong không gian đậm nét của làng quê Việt, bất cứ du khách hay phật tử nào cũng có cảm giác hoài cổ khi ngước mắt lên ngắm nhìn ngôi cổ tự. Chiêm ngưỡng vẻ cổ kính, thâm nghiêm của tam quan chùa Mía dưới tán cây đa cổ thụ 400 tuổi, có lẽ bất cứ ai cũng có cảm giác bình yên đến lạ lùng. Trong khung cảnh làng quê êm đềm, chùa Mía ấn tượng mà giản dị ngay từ cái nhìn đầu tiên của du khách tour đi làng cổ Đường Lâm.

Chùa Mía được người dân trong ngoài vùng biết đến bởi sự tôn nghiêm, cổ kính. Đến nay, người Đường Lâm vẫn truyền tai nhau những câu chuyện đậm nét huyền bí về ngôi cổ tự này. Họ tin rằng, mọi lời cầu nguyện tại đây đều được linh ứng. Theo các bậc cao niên ở đây, năm 1945, khi đê sông Hồng bị vỡ khiến cả vùng Sơn Tây ngập trong biển nước nhưng thật kỳ lạ, nước lũ đã không thể xâm phạm đến khu vực chùa Mía và cuộc sống của dân làng cũng không bị xáo trộn. Người xứ Đoài cho rằng, thần linh chùa Mía đã che chở cho họ thoát khỏi sự tàn phá của thủy thần.

Đã tồn tại những quan điểm trái chiều về lịch sử hình thành của Sùng Nghiêm tự. Theo một số nhà nghiên cứu, chùa được khánh thành đầu TK XVII, vào năm Đức Long thứ tư (Nhâm Thân, 1632). Tuy nhiên, căn cứ vào các dấu tích trong chùa, đa phần các học giả cho rằng, dấu tích xưa của chùa là một ngôi miếu nhỏ được xây dựng vào thời Trần. Nội dung văn bia cổ còn lưu giữ tại chùa cho biết, tam bảo trước chùa được dựng năm 1621 (2). Sau, ngôi miếu cổ được bà Nguyễn Thị Ngọc Rệu huy động dân làng cùng nhau tôn tạo lại vào năm 1632, miếu được xây lại thành chùa lớn như hiện nay.

Theo thời gian, chùa Mía đã được tu bổ nhiều lần. Năm 1750, tòa tiền đường mới (7 gian 2 đốc) được dựng thêm. Công trình này nằm ở phía trước tiền đường cũ. Năm 1843, dân làng bổ sung thêm gác chuông, đồng thời chuyển nhà thờ tổ (từ phía sau) ra bên phải chùa như hiện nay. Các năm 1853, 1916, 1928, 1963, ngôi cổ tự được sửa chữa và làm thêm thượng điện, tả – hữu hành lang và một số kiến trúc khác. Đến năm 1993, nhà thượng điện được tu bổ, tôn tạo hoàn toàn và xây thêm bảo tháp cửu phẩm liên hoa. Mặc dù tu bổ nhiều lần, song đến nay, quy mô tôn tạo ngôi chùa từ TK XVII dường như vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.

Bước chân vào chùa Mía, trước khi vào chính điện, khách hành hương dừng lại ở tiền đường. Tại đây, họ chỉnh đốn y phục và soạn lễ. Nhà tiền đường có bố cục mở, thông với bái đường. Với 32 cột (kiến trúc kiểu 4 hàng cột), mặt bằng của tiền đường rất thoáng đãng với 7 gian, 2 chái. 7 gian có chiều ngang khác nhau, gian giữa rộng nhất, 3,4m. Kẻ ngồi, bẩy hiên của chùa được chạm khắc hình hoa lá đơn giản. Khoảng không gian được mở rộng từ tòa tiền đường trở vào với bình diện kiểu nội công – ngoại quốc. Nơi đây được xếp đặt một số lượng tượng phật lớn.

Tòa bái đường được xây song song với tiền đường theo hình chữ nhị. Giữa hai dãy nhà này có một khoảng trống để ánh sáng tự nhiên lọt xuống và phản chiếu sang các bức tượng ở hai bên và trên phật điện. Những tia sáng từ khoảng giếng trời này làm bừng lên sức sống cho ngôi cổ tự nhưng không hề làm mất đi vẻ tôn kính của nó. Đồng thời, khoảng trống này đã vô tình tạo nên sự tách biệt giữa khu vực dành cho du khách tour du xuân 2018 ngồi làm lễ và khu vực gian thờ. Ánh nắng mặt trời phản chiếu qua đường diềm mái ngói ở hai bên xuống nền gạch, tạo nên một khung cảnh tuyệt vời cho những người mang tâm hồn nghệ sĩ thỏa sức với những sáng tạo mới của mình. Tòa bái đường chùa Mía dài 7,3m. Hệ thống 32 cột và được kết cấu thành 4 hàng đã ngăn công trình này thành bảy gian và hai đốc. Bái đường nối với nhà thiêu hương và hậu cung giật cấp, tạo chiều cao và chiều sâu thâm nghiêm.

Nhà thiêu hương (còn gọi là ống muống) chùa Mía được chia thành ba gian với kiến trúc bốn hàng cột. Phần kiến trúc này được thiết kế là cầu nối giữa bái đường với thượng điện. Thượng điện (hay hậu điện) được cấu trúc thành ba gian với đầu hồi bít đốc. Gian giữa của thượng điện nối liền với nhà thiêu hương, hai gian đầu hồi tạo ra tả – hữu hậu cung. Đi từ nhà thiêu hương lên thượng điện phải bước qua 5 bậc và cao hơn 1m.

Tòa hậu đường có chiều dài tương đương với tiền đường và bái đường, được chia thành 5 gian và 2 chái. Kết cấu vì kèo ở hậu đường mang phong cách kiến trúc TK XVI. Tại phần kiến trúc này có những chiếc cột gỗ mít to, có cột đường kính tới 0,76m. Tuy không hài hòa với các thành phần kiến trúc liên quan, nhưng điều này càng khẳng định sự cổ kính của công trình.

Tả – hữu hành lang gồm 7 gian được thiết kế theo dạng nhà cầu, đầu hồi bít đốc. Theo một số nhà nghiên cứu, các chùa cổ thời nhà Lê về trước thường được xây dựng theo kiểu kiến trúc này. Khoảng giữa bái đường và hậu đường được nối bởi hành lang ngoài. Nơi đây dùng để đặt tượng 18 vị la hán (gọi là thập bát hán) và ban thờ đức chúa ông, đức thánh hiền tại gian cuối của mỗi hành lang. Do được sắp xếp theo hình chữ mục, nên các ban thờ được nối tiếp nhau và những người đi lễ sẽ không quay lưng vào bất cứ ban thờ nào.

Đáng chú ý con số 7 trong kiến trúc chùa Mía: mặt bằng ở tòa tiền đường, bái đường và tả – hữu hành lang đều là 7 gian. Số gian của bái đường tùy thuộc vào quy mô của chùa, nhỏ nhất là 3 gian, thông thường là 5 gian. Vậy kiến trúc 7 gian là sự ngẫu nhiên của tiền nhân hay một dụng ý nào đó? Đến nay, qua khảo cứu các tài liệu về chùa Mía, chúng tôi vẫn chưa thấy có văn bản nào đề cập đến chủ đề này. Tuy nhiên, con số 7 được nhắc đến trong kinh Phật Thuyết đại bát nê hoàn như sau: “Lúc mới ra đời, đức Phật đã đi 7 bước trên 7 đóa sen vàng. Ý nghĩa số 7 trong Phật giáo: 7 bước về phía đông biểu thị bậc đứng đầu dẫn đạo chúng sinh; 7 bước về phía nam là thị hiện vì chúng sanh làm phước điền vô thượng; 7 bước về phía tây là biểu thị hiện thân sau cùng vĩnh viễn đoạn tận cái khổ sinh lão bệnh tử; 7 bước về phía bắc là thị hiện đã hóa độ các loài hữu tình sinh tử…” (8). Đó là truyền thuyết Phật giáo và điều này có ảnh hưởng đến thiết kế 7 gian của kiến trúc chùa Mía hay không, đây có lẽ sẽ vẫn còn là câu hỏi cho các nhà nghiên cứu văn hóa.

Nổi tiếng là nơi thâm nghiêm và thanh tịnh, Sùng Nghiêm tự còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa kiến trúc của ngôi chùa Việt. Nét đẹp của ngôi cổ tự làng Đường Lâm đã thu hút nhiều nghệ sĩ đến đây để sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật của mình. Từ năm 1993, chùa Mía đã được Bộ VHTT, nay là Bộ VHTTDL, xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.

Related posts